banner tạm

Cập nhật lúc : 3:42 PM, 31/08/2015

  • Chia sẻ
  • Facebook
  • Viết bình luận
  • Bản in

Dấu ấn của 11 Bộ trưởng Giao thông vận tải

70 năm qua, ngành GTVT đã trải qua sự lãnh đạo của 11 vị Bộ trưởng, (chưa kể Bộ trưởng đương nhiệm).

Trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, lịch sử ngành, 11 vị Tư lệnh ngành đều để lại những dấu ấn quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, quyết định sự phát triển của ngành GTVT...

8/1945 - 3/1946
Bộ trưởng Đào Trọng Kim: Người đặt nền móng cho ngành GTVT

92
Bộ trưởng Đào Trọng Kim

Bộ trưởng Đào Trọng Kim vốn là một nhân sỹ yêu nước, kỹ sư canh nông. Tháng 8/1945, sau khi giành được chính quyền, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính (GTCC) đầu tiên của nước ta. Ông giữ chức Bộ trưởng đến tháng 3/1946.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông ở bất cứ thời kỳ nào cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của một quốc gia. Đối với Việt Nam, giai đoạn 1945-1946, khi chúng ta chưa kịp đầu tư hạ tầng cơ sở, hạ tầng giao thông chủ yếu là duy trì và kế thừa của chế độ cũ. Mặt khác, ngành GTCC thời kỳ đất nước vừa giành được độc lập còn phải gánh thêm trọng trách rất lớn của ngành Nông nghiệp khi đó là khôi phục và củng cố hệ thống đê điều để bảo vệ sản xuất.

Theo ông Dương Trung Quốc, lý do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn ông Đào Trọng Kim làm Bộ trưởng GTCC đầu tiên, vì Chính phủ lâm thời khi đó rất trọng dụng những trí thức được đào tạo chính quy. Các kỹ sư công chính có một địa vị rất cao trong xã hội, bởi họ được đào tạo rất bài bản, có năng lực và trình độ để cống hiến cho đất nước. “Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn ông Đào Trọng Kim làm Bộ trưởng GTCC thời kỳ ấy trên cơ sở chọn người có tài, có nghề. Nhiều người trước kia làm việc dưới chế độ cũ nhưng có đức và tài nên vẫn được chọn để phục vụ cho chế độ mới”, nhà sử học Dương Trung Quốc nói và cho biết, thời điểm đó, giao thông đường bộ chưa phát triển, giao thông trên trục Bắc - Nam và khu vực miền Bắc, chủ yếu là vận tải đường sắt.

Bộ trưởng Đào Trọng Kim đã cùng Thứ trưởng Nguyễn Phúc Thông - nhân sĩ yêu nước, kỹ sư Công chính, chỉ đạo Sở Hỏa xa T.Ư tổ chức nhiều đoàn tàu chở quân đội vào Nam chống Pháp. Đồng thời, chỉ đạo các cơ sở đường sắt phía Nam, chủ yếu là ở Sài Gòn, vừa tham gia tự vệ đánh quân Pháp, vừa tháo gỡ thiết bị ra khỏi Sài Gòn. Cán bộ, công nhân đường sắt ở Nha Trang, cũng rất kiên cường bám nhà ga, bám tàu và bất hợp tác với quân Pháp.  Các lực lượng GTVT đã chủ động tham gia chiến đấu đánh địch và tham gia “tiêu thổ kháng chiến” nhằm ngăn chặn đường tiến quân của địch.

Tháng 3/1946, sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên, ông Đào Trọng Kim thôi giữ chức Bộ trưởng, nhưng các thế hệ lãnh đạo ngành sau này vẫn nhắc đến ông, khâm phục ông, bởi ông là người đứng đầu Bộ ngay từ đầu khai quốc trong Chính  phủ liên hiệp của nước Việt Nam mới giành được độc lập.


3/1946 - 9/1955
Bộ trưởng Trần Đăng Khoa: Đường mòn làm nên chiến thắng “chấn động địa cầu”

82
Bộ trưởng Trần Đăng Khoa

Bộ trưởng Trần Đăng Khoa sinh năm 1906 tại huyện Hương Trà, ngoại ô TP Huế. Ông làm Bộ trưởng GTCC từ tháng 3/1946 đến tháng 9/1955. Theo Nhà sử học Dương Trung Quốc, Bộ trưởng GTCC Trần Đăng Khoa cũng là một nhân sỹ yêu nước được Hồ Chủ tịch “chọn mặt gửi vàng” gánh vác nhiệm vụ nặng nề của ngành GTCC giai đoạn khó khăn đó. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa I, được dân bầu ngày 6/1/1946. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946. Quốc hội đã lập ra các cơ quan hành pháp, gồm các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành  phố. Bộ GTCC trực thuộc Chính phủ.

Ông Trần Đăng Khoa làm Bộ trưởng trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, kinh tế còn nhiều khó khăn, quân đội thực dân Pháp lăm le xâm lược nước ta một lần nữa, vận mệnh đất nước được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. “Tuy vậy, Bộ trưởng Trần Đăng Khoa luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước, cho ngành GTCC theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, ông Dương Trung Quốc cho biết.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, để chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến ở miền Nam, Bộ GTCC vừa chỉ đạo Sở Hỏa xa T.Ư tổ chức nhiều đoàn tàu vận tải quân, lương phục vụ cho kháng chiến Nam Bộ và các chiến trường khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra (12/1946) vừa lên kế hoạch sơ tán và tiêu thổ kháng chiến.

Giai đoạn này, khó khăn nhất của Bộ trưởng Khoa là phải quyết định phá hủy các công trình giao thông, đặc biệt là các cầu lớn, ngăn những trục đường lớn, cản trở không cho quân Pháp tiến vào chiến khu Việt Bắc và vùng tự do của ta, phá vỡ âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân đội Pháp.

Một mặt, ông và các Thứ trưởng đã chỉ đạo và tổ chức các lực lượng TNXP, dân công hỏa tuyến tham gia sửa chữa, mở đường các vùng tự do, vùng kháng chiến; tham gia vận tải hàng hoá, lương thực, cùng quân đội tham gia các chiến dịch tấn công giai đoạn 1945-1954. Trong đó, đặc biệt là mở những tuyến đường phục vụ quân đội đưa vũ khí, khí tài quân trang quân dụng, đánh quân Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngành GTCC phải bắt tay ngay vào công việc tiếp quản các cơ sở GTVT như nhà ga, bến cảng, các doanh nghiệp vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, các cơ sở cơ khí, cầu đường... đồng thời lập kế hoạch và tổ chức các đơn vị xây dựng cầu đường khôi phục mạng lưới giao thông đường bộ bị hư hỏng nặng nề trong chiến tranh. Đến tháng 9/1955, Quốc hội thành lập Bộ Giao thông và Bưu điện (GT&BĐ), ông Trần Đăng Khoa chuyển công tác sang Bộ Thủy lợi.


9/1955 - 1961
Bộ trưởng Nguyễn Văn Trân: Giao thông hướng ra thế giới

83
Bộ trưởngNguyễn Văn Trân

Ông Nguyễn Văn Trân sinh năm 1917 tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm Bộ trưởng Bộ GT&BĐ từ tháng 9/1955 đến đầu năm 1961. Nói về Bộ trưởng Nguyễn Văn Trân, nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT Bình Tâm cho biết, ông vốn là cựu tù Sơn La, thời gian trước đó đã từng giữ chức Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Cung cấp lương thực - thực phẩm cho mặt trận Điện Biên Phủ, kiêm Thứ trưởng Bộ GTCC. Bộ trưởng Trân là người mẫu mực, hết lòng vì sự nghiệp phát triển của ngành. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Bộ GT&BĐ thời đó là khôi phục, phát triển mạng lưới GTVT và bưu điện.

Khó khăn nhất thời kỳ đó phải kể tới việc khôi phục các tuyến đường sắt do phải sửa chữa nhiều cây cầu lớn như: Việt Trì (Phú Thọ) và Phủ Lạng Thương (Bắc Giang)...  Với tinh thần “đi trước mở đường”, đến năm 1960, ngành GT&BĐ đã khôi phục cơ bản các tuyến đường sắt miền Bắc và nối thông được tuyến đường sắt Hà Nội - Bằng Tường (Trung Quốc) trên tuyến Hà Nội - Đồng Đăng và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Bắc Kinh - Moscow - Berlin, phục vụ đắc lực công cuộc khôi phục kinh tế, đáp ứng nhu cầu đi lại giao thương của người dân.

Đối với việc khôi phục mạng lưới đường bộ, tuy gặp nhiều khó khăn vì ngân sách hạn hẹp, nhưng với phương châm: Đường qua địa phương nào, địa phương đó chủ động huy động lực lượng để sửa, nhờ vậy đã có nhiều tuyến đường được sửa, đảm bảo sự đi lại của các phương tiện không bị ách tắc.

Ông Nguyễn Văn Trân đảm nhiệm Bộ trưởng hơn 5 năm, tháng 2/1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành nghị quyết tách Bưu điện ra khỏi Bộ GTVT và lấy tên bộ mới là Bộ GTVT, Bộ trưởng Nguyễn Văn Trân được chuyển sang công tác khác.


1961 - 1974   1976 - 1981
Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ: Người hai lần làm Bộ trưởng GTVT

84

Hình ảnh Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ là sự kết hợp hài hòa của một Tư lệnh kiêm Chính ủy tài năng

Ông Phan Trọng Tuệ, sinh năm 1917 tại huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc TP Hà Nội). Ông là vị tướng đầu tiên nhận nhiệm vụ làm Tư lệnh ngành GTVT. Ông cũng là người duy nhất hai lần làm Bộ trưởng GTVT: Giai đoạn 1961 -1974 (có thời gian kiêm Tư lệnh và Chính ủy Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn); Giai đoạn 1976 - 1981 ông là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GTVT.

Theo suy luận thông thường, một vị từng là Tư lệnh trong quân đội như ông sẽ mang phong cách quân sự vào hoạt động quản lý ngành, đặc biệt là trong thời chiến, khi mà 60-70% số bom Mỹ ném xuống miền Bắc nhằm vào mục tiêu giao thông, còn quân dân ta thì xác định tất cả cho tiền tuyến, bảo đảm mạch máu giao thông. Nhưng dấu ấn sâu sắc của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ là lối sống gần gũi, giản dị.

Nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT Bình Tâm nhớ lại: “Nghệ thuật lãnh đạo của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ vừa khéo léo thuyết phục, vừa dân chủ bàn bạc, nhưng cũng quyết đoán đúng lúc, đúng trường hợp và dám chịu trách nhiệm về những chủ trương quyết sách của mình. Ông đoàn kết được đông đảo cán bộ chính trị, khoa học - kỹ thuật, người trong Đảng và ngoài Đảng, biết động viên họ làm những việc tưởng chừng như không làm nổi. Ông nghiêm khắc với những sai sót của bản thân, nhưng khi xử lý kỷ luật cấp dưới lại rất thận trọng”.

Trong tâm khảm của nhiều người làm GTVT, hình ảnh Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ là sự kết hợp hài hòa của một Tư lệnh kiêm Chính ủy tài năng, sâu sắc và hết sức gần gũi. “Ông như một đầu mối lớn quy tụ, phát huy sức mạnh toàn ngành, liên kết chặt chẽ với các địa phương, phối hợp lực lượng dân sự và quân sự, huy động mọi nguồn nhân lực (kỹ sư và công nhân giao thông, bộ đội, TNXP, dân công hỏa tuyến, nhân dân) và phương tiện sẵn có (quang gánh, gùi thồ, thuyền bè, tàu xe), thực hiện sáng tạo phương thức chiến tranh nhân dân trên mặt trận GTVT, làm nên sức mạnh tổng hợp góp phần vào thắng lợi chung”, nguyên Thứ trưởng Bình Tâm kể.

Bà Phan Thị Gia Liên, con gái út của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ chia sẻ, những lời dạy của cha năm xưa vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. Bà Liên cho biết: “Cha tôi thường dạy chúng tôi phải luôn kiên trung, trong bất cứ khó khăn, gian khổ nào cũng phải giữ vững niềm tin tuyệt đối vào Đảng, sống giản dị, trong sáng. Luôn kiên định lập trường, không vì bất cứ lý do gì khiến mình nhụt ý chí phấn đấu”.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, Bộ GTVT đã đề ra kế hoạch và phương án tổ chức lực lượng lao động, thiết bị, phương tiện, cơ sở cơ khí sửa chữa, lập kế hoạch dự trữ vật tư, chuẩn bị các phương án vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, đường sông, đường bộ, đường biển nhằm đảm bảo giao thông, đặc biệt là những tuyến đường chiến lược vận tải quân đội, lương thực, vũ khí, khí tài chi viện cho miền Nam, trọng điểm là các tuyến đường Đông và Tây Trường Sơn. Thời kỳ đó ông đã nhiều lần vào Hà Tĩnh, Quảng Bình trực tiếp chỉ đạo xây dựng các tuyến đường Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây.

Từ tháng 3/1974 đến giữa năm 1976, ông thôi giữ Bộ trưởng Bộ GTVT để làm Phó Thủ tướng, kiêm Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam.

Ông Phan Trong Tuệ sau đó còn đảm nhiệm chức Bộ trưởng GTVT lần thứ hai. Khoảng tháng 10/1980, Bộ GTVT đã ra chủ trương phân cấp vận tải và quản lý đường sá giữa T.Ư với địa phương. Theo chủ trương này, lực lượng vận tải T.Ư là các ngành đường biển, đường sắt, đường sông và vận tải ô tô đường dài…  Dưới thời Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, nhiều phong trào, khẩu hiệu thi đua được phát động. Trong đó đặc biệt là đi đôi với việc chấn chỉnh bộ máy giúp việc, lãnh đạo Bộ rất quyết tâm tổ chức lại sản xuất - kinh doanh ở các đơn vị, với khẩu hiệu hành động: “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”. Sau này và cho đến bây giờ, câu khẩu hiệu trên vẫn trở thành phong trào thi đua lớn trong toàn ngành GTVT.

Tháng 2/1981, ông thôi chức Bộ trưởng. Như vậy, với hai lần đảm nhiệm Bộ trưởng, ông đã có tất cả là 17 năm 7 tháng là Bộ trưởng GTVT.


3/1974 - 1976
Bộ trưởng Dương Bạch Liên: Khôi phục đường sắt Bắc - Nam

85
Bộ trưởng Dương Bạch Liên

Người kế nhiệm giữa hai lần làm Bộ trưởng của ông Phan Trọng Tuệ là Thứ trưởng thường trực Dương Bạch Liên. Ông sinh năm 1926, tại tỉnh Hải Dương. Tuy chỉ đảm nhiệm Bộ trưởng trong hơn hai năm, từ tháng 3/1974 đến giữa năm 1976, nhưng đó là những năm, trước và sau ngày giải phóng miền Nam, khoảng thời gian rất khó khăn của ngành GTVT. Theo các cán bộ từng công tác trong ngành GTVT, vào thời gian này, nhiệm vụ chính của Bộ GTVT là đảm bảo giao thông trên quy mô toàn quốc và tiếp quản các cơ sở vật chất về GTVT ở miền Nam. Bộ trưởng Liên đã nhanh chóng thành lập Tổng cục GTVT miền Nam.

Tổng cục GTVT miền Nam đã nhanh chóng tiếp thu và tiếp quản các cơ sở vật chất kỹ thuật GTVT của chế độ cũ. Khoảng cuối năm 1975, Bộ GTVT bắt đầu tham gia khôi phục tuyến đường sắt Bắc - Nam. Đây là công trình giao thông quan trọng bậc nhất của nước ta lúc bấy giờ, với khối lượng công việc khổng lồ, đầy rẫy những khó khăn phức tạp, do phải huy động và tổ chức lao động cho hàng vạn người, vừa rà phá bom mìn, vừa khảo sát thiết kế, thi công đến đâu vận hành khai thác đến đó… Nhưng dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Dương Bạch Liên chỉ trong 14 tháng thi công đã khôi phục được 1.700 km đường sắt Bắc - Nam, một khối lượng công việc khổng lồ. Ngành GTVT đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Giữa năm 1976 ông Dương Bạch Liên chuyển sang Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.


1981 - 1982
Bộ trưởng Đinh Đức Thiện: “Tôi về đây để... kìm tốc độ xuống cấp của ngành GTVT”

86
Bộ trưởng Đinh Đức Thiện

Người về làm Bộ trưởng GTVT thay ông Phan Trọng Tuệ lần hai là Trung tướng Đinh Đức Thiện. Ông Đinh Đức Thiện, tên thật là Phan Đình Dinh, sinh năm 1914 tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông làm Bộ trưởng trong một thời gian ngắn, khoảng một năm rưỡi (1981-1982). Đây cũng là thời kỳ kinh tế đất nước vô cùng khó khăn.

Nhà báo Quang Tuấn (Báo Nhân dân) - người nhiều năm gắn bó và theo dõi ngành GTVT kể, dù chỉ làm Bộ trưởng GTVT một thời gian ngắn nhưng ông Đinh Đức Thiện để lại dấu ấn khá rõ. “Tôi hơi ngỡ ngàng khi một lần trực tiếp nghe ông nói: “Tôi về đây không phải để vực lên mà kìm tốc độ xuống cấp của ngành GTVT”, đó là câu nói nổi tiếng của Bộ trưởng Đinh Đức Thiện mà nhiều người trong ngành GTVT hiện nay còn nhớ rõ. Bởi đây là giai đoạn nền kinh tế đất nước vô cùng khó khăn, hạ tầng xuống cấp nhưng không có kinh phí đầu tư, sửa chữa.

Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đặt dấu ấn đậm nét trong phong trào thi đua xây dựng cầu Thăng Long với khẩu hiệu: “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”.

Giai đoạn đó, giữa bộn bề thiếu thốn, kinh tế khó khăn, sau chiến tranh biên giới, đất nước vẫn bị bao vây cấm vận nên cơ sở vật chất ngành GTVT như đường sá, cầu cống xuống cấp “không phanh”, bởi vậy, khi  phát biểu ở bất cứ hội nghị nào, Bộ trưởng Đinh Đức Thiện đều khích lệ, động viên mọi người vượt qua thời khốn khó. Tháng 4/1982, ông Đinh Đức Thiện thôi chức Bộ trưởng GTVT và trở về Bộ Quốc phòng giữ chức Thứ trưởng.

4/1982 - 6/1986
Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên: Vị tướng của các cây cầu “Tự lực cánh sinh”

87
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Bộ trưởng Bộ GTVT, Chỉ huy Đoàn 559 báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp phương án vận chuyển vũ khí, lương thực trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào

Ông Đồng Sỹ Nguyên là vị tướng thứ ba làm Bộ trưởng Bộ GTVT. Ông tên thật là Nguyễn Hữu Vũ, sinh năm 1923 tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng ông lấy bí danh là Nguyễn Văn Đồng. Ông làm Bộ trưởng GTVT từ tháng 4/1982 đến tháng 6/1986.

Nói về vai trò của các vị tướng kiêm “tư lệnh” ngành GTVT, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, việc bảo đảm an ninh - quốc phòng luôn là mục tiêu quan trọng của đất nước ta, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các vị tướng luôn coi việc bảo vệ và xây dựng các công trình giao thông để phục vụ tốt nhất tiền tuyến.

“Hơn nữa, quân đội giữ một vai trò rất quan trọng về kỹ thuật, lực lượng trong việc tham gia xây dựng, bảo vệ các tuyến đường huyết mạch quốc gia. Do đó, tôi cho rằng, việc các tướng lĩnh trong quân đội được điều chuyển sang đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Bộ GTVT là rất quan trọng”, ông Quốc nói.

Kể về Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên, TS. Nguyễn Ngọc Long, Phó Chủ tịch Hội KHKT cầu đường VN, người có khoảng thời gian gắn bó, làm việc với 6 đời Bộ trưởng GTVT nhận xét, Bộ trưởng Nguyên rất coi trọng việc xây dựng các quy hoạch, chiến lược, định hướng phát triển của ngành.

Ông Long kể: “Năm 1991, khi Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên vừa nhận nhiệm vụ Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GTVT, khi đó tôi là kỹ sư của công ty cầu lớn hầm trực tiếp báo cáo Bộ trưởng về các phương án xây dựng cầu Bình trên QL183. Khi trình bày phương án, tôi cũng không rõ tầm quan trọng của cây cầu này thế nào. Sau khi nghe tôi nói, Bộ trưởng đã giảng giải nhiều điều về vai trò kết nối của cây cầu này với QL183, QL18, QL5 và nhiều tuyến khác. Phải nói đây là một trong những bài học lớn đầu tiên về quy hoạch GTVT đối với tôi”.  

Cũng vào thời Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên, Bộ GTVT có nhiều thay đổi lớn về tổ chức. Tháng 2/1983, Bộ trưởng đã quyết định, sắp xếp lại các đơn vị vận tải đường biển, đường sông, đường bộ và đường sắt. Trong đó, Tổng cục Đường sắt, quyết định bỏ cấp quận, để thành lập 5 công ty vận tải đường sắt theo khu vực. Ngành xây dựng cơ bản, giải thể Cục Đường bộ, các cục xây dựng cơ bản được tổ chức thành Liên hiệp các xí nghiệp xây dựng giao thông theo khu vực và theo vùng lãnh thổ, bên cạnh các liên hiệp còn có các ban quản lý công trình khu vực.

Trong giai đoạn này, ông chủ trương xây dựng các cầu vượt sông lớn theo phương châm: “Tự lực cánh sinh”. Cây cầu đầu tiên của tinh thần ấy là cầu Chương Dương bắc qua sông Hồng. Với cây cầu này, thời gian đầu ông đã trực tiếp chỉ đạo các công việc triển khai xây dựng, sau một thời gian, mới giao cho Thứ trưởng Bùi Danh Lưu, trực tiếp chỉ đạo về kỹ thuật và tổ chức thi công. Hồi đó, cánh nhà báo thường có mặt trên công trình, kể cả đêm 30 Tết để đưa tin, viết bài phản ánh. Sau này tinh thần “tự lực cánh sinh” do ông khởi xướng đã trở thành phong trào lớn, xuyên suốt trong nhiều năm của ngành GTVT. Phong trào đóng thuyền xi măng lưới thép, thay thế sắt thép nhập ngoại được nhân rộng cũng theo tinh thần đó.

Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên vốn là Trung tướng Tư lệnh Đoàn 559 trong những năm chiến tranh chống Mỹ, với tác phong quân đội nên phong cách lãnh đạo rất quyết đoán, ông chỉ đạo công việc theo kiểu “quân lệnh như sơn”. Sau khi công trình xây dựng cầu Chương Dương hoàn thành, tháng 6/1986, ông thôi giữ chức Bộ trưởng. Năm 1986-1991, ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Khi nghỉ hưu ông là Cố vấn đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, tham gia Ban Chỉ đạo Nhà nước xây dựng đường Hồ Chí Minh.


6/1986 - 11/1996
Bộ trưởng Bùi Danh Lưu: Nhà khoa học với dấu ấn xóa dần bao cấp

88
Bộ trưởng Bùi Danh Lưu

Người kế nhiệm Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên là Thứ trưởng Bùi Danh Lưu. Ông còn có tên gọi khác là Quốc Linh, sinh năm 1935 tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Ông làm Bộ trưởng GTVT từ tháng 6/1986 - 11/1996.

TS. Nguyễn Ngọc Long cho biết, Bộ trưởng Bùi Danh Lưu là một nhà khoa học thực thụ với hàm giáo sư, tiến sỹ. “Bộ trưởng Bùi Danh Lưu rất giản dị, luôn quan tâm đến mọi người. Tôi nhớ rất rõ câu nói nổi tiếng của ông: “Mỗi người chỉ cần làm một việc hoặc một số việc có ích cho ngành, góp lại sẽ là thành tích lớn”.

Bộ trưởng Bùi Danh Lưu đảm nhiệm chức Bộ trưởng trong giai đoạn Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đối với GTVT, Nghị quyết của T.Ư Đảng khẳng định: “Là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng” và “phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân”.

Qua 10 năm làm Bộ trưởng, ông đã để lại cho ngành nhiều dấu ấn quan trọng. Dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bùi Danh Lưu, 11 chương trình cụ thể đã được Bộ triển khai trong toàn ngành để thực hiện Nghị quyết Đại hội VI. Qua đó toàn ngành đã có 260 xí nghiệp được chuyển sang hạch toán kinh doanh, theo hình thức lấy thu bù chi, sản xuất - kinh doanh có lãi, 76 đơn vị  hạch toán tiết kiệm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp và Bộ đã cho phép 172 xí nghiệp được phép tự trang trải từng bước về tài chính tiến đến tự chủ hoàn toàn.

Ông đã quyết tâm tái lập lại các cục quản lý chuyên ngành gồm: Đường bộ, Đường sông, thành lập thêm các cục: Hàng hải, Đăng kiểm, Giám định chất lượng… để giúp Bộ trưởng tăng cường công tác chỉ đạo với các đơn vị có liên quan trong ngành.

Đại hội lần thứ VIII của Đảng, ông Bùi Danh Lưu tái cử Ban Chấp hành T.Ư Đảng. Sau đó tháng 11/1996, ông được bổ nhiệm làm Phó Trưởng ban Ban Kinh tế T.Ư. 


11/1996 - 6/2002
Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn: “Cái tâm phát ra cái tài”

89
Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn

Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn từng tham gia TNXP đảm bảo giao thông ở tuyến đường Trường Sơn, rồi làm Phó ban Xây dựng 64 tại Lào, Tổng giám đốc Liên hiệp XDCT giao thông 8. Trước khi đảm nhiệm chức Bộ trưởng, ông đã từng là Vụ trưởng Vụ TCCB, Thứ trưởng, rồi lên quyền Bộ trưởng. Ông Lê Ngọc Hoàn sinh năm 1937 tại huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông làm Bộ trưởng GTVT từ tháng 11/1996- 6/2002.

Ông vốn trưởng thành từ công trường, nên ông hiểu nghề, hiểu cán bộ của mình tường tận, để chỉ đạo sát sao trong công việc mà vẫn cảm thông được với cán bộ  tham mưu và đơn vị cơ sở. Ông đảm nhận chức Bộ trưởng trong bối cảnh công cuộc đổi mới đã thực hiện được 10 năm (1986 - 1996), những thành tựu cơ bản về kinh tế, đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu, đặc biệt là tụt hậu hạ tầng giao thông, so với thế giới đang hiện hữu.

Chia sẻ về những năm tháng đảm nhiệm vai trò người đứng đầu ngành GTVT, Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn cho biết: “Tôi nhớ nhất là chuyện tiếp nhận, sử dụng vốn ODA để xây dựng công trình giao thông. Đây là giai đoạn đầu tiên dùng vốn ODA và nguồn này chiếm đến khoảng 80% vốn xây dựng công trình giao thông. Khi đó luật chưa có, các chỉ tiêu, định mức kinh tế - kỹ thuật cũng chưa, Bộ GTVT vừa làm vừa rút kinh nghiệm nhưng đã quản lý hiệu quả, tiết kiệm, nên tất cả các dự án vốn ODA làm xong vẫn thừa tiền và được dùng để làm thêm những con đường, cây cầu khác”.

“Kinh nghiệm của tôi là làm việc với cái tâm, cái tâm phát ra cái tài, biết sử dụng con người, sử dụng đội ngũ các nhà khoa học và thể hiện sự dám chịu trách nhiệm đến cùng”, Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn nói.

Những năm tháng tại vị, ông luôn trăn trở với bài toán: Cơ chế nào, nguồn vốn nào để nâng cấp, mở đường, xây cầu mới và cả hạ tầng sân bay, cảng biển nữa... Được sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ GTVT bắt đầu xúc tiến việc vay vốn nước ngoài để phát triển hạ tầng giao thông, trong đó có vai trò quan trọng của Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn. Khi đó, quan điểm vay nước ngoài làm đường, xây cầu còn khá mới mẻ.

Ngoài nguồn vốn vay, vào thời kỳ này Bộ GTVT vẫn sử dụng nguồn vốn trong nước để triển khai một số công trình trọng điểm quốc gia, trong đó công trình lớn nhất là dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh. Tháng 7/2002, ông Lê Ngọc Hoàn nghỉ hưu.


7/2002 - 6/2006
Bộ trưởng Đào Đình Bình: Khơi dậy các phong trào thi đua

90
Bộ trưởng Đào Đình Bình

Trước khi đảm nhận chức vụ Bộ trưởng, ông Đào Đình Bình là Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ GTVT kiêm Tổng Giám đốc Liên hiệp Đường sắt Việt Nam. Ông còn là Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia đầu tiên. Ông sinh năm 1945 tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm Bộ trưởng GTVT từ tháng 7/2002 - 6/2006.

Ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng trong bối cảnh toàn quốc đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng. Với cương vị Bí thư Ban Cán sự, Bộ trưởng Đào Đình Bình đã ban hành Chương trình hành động của Bộ GTVT với mục tiêu chung: “Phát triển đồng bộ và bền vững mạng lưới giao thông quốc gia, bảo đảm sự đi lại thông suốt, an toàn, êm thuận với chất lượng ngày càng tốt hơn”. Chủ trương lớn của lãnh đạo Bộ GTVT là xóa các phà trên tất cả các tuyến quốc lộ và phát triển mạng đường cao tốc ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Ngọc Long cho biết, giai đoạn 2002-2006 là quãng thời gian đặc biệt khó khăn của ngành GTVT. Đây cũng là giai đoạn xảy ra vụ PMU 18. “Tuy nhiên, Bộ trưởng Đào Đình Bình là con người đổi mới và hành động. Minh chứng là trong một thời gian dài, ngành Đường sắt không hề có một dự án mới nào được triển khai. Nhưng ông rất quyết liệt triển khai dự án Yên Viên - Hạ Long - Cái Lân để cải thiện khả năng vận hành, lưu thông của đường sắt”, TS. Long nói.

Bộ trưởng Đào Đình Bình rất coi trọng yếu tố nội lực, tiếp tục khơi dậy và đẩy mạnh phong trào thi đua “Lao động giỏi - sáng tạo” với mục tiêu: “Năng suất, chất lượng, hiệu quả”; bảo đảm việc làm và nâng cao đời sống cho công nhân viên chức, lao động; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát huy truyền thống: “Dũng cảm, thông minh, sáng tạo” với tinh thần “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” trên mọi lĩnh vực và cương vị công tác.

Đặc biệt, trong thời gian ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng, cũng là thời kỳ Bộ GTVT hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực GTVT bao gồm các bộ luật: Giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải, đường sắt, hàng không dân dụng…


6/2006 - 8/2011
Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng: Cả nước đội mũ bảo hiểm

91

Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng (đứng giữa hàng phía sau) trao MBH cho học sinh trường Tiểu học Hạ Long (Quảng Ninh) - Ảnh: Viết Huy

Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng vốn là kỹ sư cán thép, tốt nghiệp Đại học Công nghiệp Hungary, trước khi đảm nhận chức Bộ trưởng GTVT, ông  giữ chức Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ngãi. Ông sinh năm 1950 tại quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Ông Hồ Nghĩa Dũng làm Bộ trưởng GTVT từ tháng 6/2006 - 8/2011.

Nói về Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng, TS. Nguyễn Ngọc Long cho biết, ông có vai trò rất lớn trong việc lấy lại sự ổn định, điều hòa và cân bằng lại cho ngành GTVT sau “cơn bão” PMU18. Với tính cách hiền lành, điềm đạm, ông là người khá gần gũi, biết sử dụng cán bộ cấp dưới, bình tĩnh xử lý khéo các công việc. 

Trong thời gian 5 năm, giữ chức Bộ trưởng Bộ GTVT, ông đã chỉ đạo thực hiện thành công được một số công việc. Trong đó, đáng ghi nhận nhất là có nhiều phần việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, cổ phần hóa công ty Nhà nước thuộc Bộ và cải cách hành chính được tiếp tục triển khai thực hiện một cách kiên quyết, phấn đấu hoàn thành giai đoạn 1 Đề án 30 về cải cách hành chính của Chính phủ và đã công bố Bộ thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ GTVT.

Dấu ấn lớn nhất trong giai đoạn này được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, với cương vị Bộ trưởng - Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia, Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng đã chỉ đạo thành công việc thực hiện bắt buộc đội MBH đối với những người đi mô tô, xe máy, qua đó từng bước kéo giảm TNGT.

Tháng 8/2011, ông Hồ Nghĩa Dũng nghỉ hưu.

Theo Báo Giao thông

Viết bình luận

Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản