banner tạm

Cập nhật lúc : 1:51 PM, 12/08/2013

  • Chia sẻ
  • Facebook
  • Viết bình luận
  • Bản in

Chuyện ly kỳ về chiếc cầu “vênh”

Phú Lương nối đôi bờ sông Thái Bình được coi là cây cầu đầu tiên đúc hẫng cân bằng - một công nghệ tiên tiến và phổ biến nhất trên thế giới vào thời điểm đó nhưng lại hoàn toàn mới tại Việt Nam. Vừa làm vừa tìm tòi, học hỏi nhưng kết quả thành công vượt ngoài mong đợi và những người thợ cầu đến hôm nay vẫn còn nhớ như in những câu chuyện cười ra nước mắt…

4 triệu USD mở ra cơ hội lịch sử

Ông Cấn Hồng Lai, khi đó còn là đội trưởng thi công cầu Phú Lương của Công ty Cầu 12 (nay là Tổng giám đốc Cienco 1) say sưa kể những câu chuyện tiếp nhận công nghệ đúc hẫng cân bằng hoàn toàn mới mẻ  với thợ cầu Việt Nam. Đó là những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi Cienco 1 được Bộ GTVT trực tiếp giao tiếp nhận công nghệ và 2 bộ xe đúc của hãng VSL Thụy Sỹ để về làm cầu Phú Lương.

Nói là quá xa lạ thì cũng không hẳn, bởi trước đó, các cầu An Dương, Niệm, Bia… đã làm theo công nghệ của Liên Xô cũ. Tuy nhiên, đây chỉ là manh nha của công nghệ đúc hẫng, khẩu độ rất thấp, không phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước lúc bấy giờ. Cầu Phú Lương có chiều dài hơn 491m, được tạo bởi hai tuyến dầm thượng lưu và hạ lưu riêng biệt nằm song song nhau. Khổ cầu được thiết kế cho 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ. Mặt cắt ngang 23m và khẩu độ thông thuyền tới 60m, hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu vận tải đang tăng nhanh trên tuyến huyết mạch QL5.

Nói thêm về lý do nhập khẩu công nghệ đúc hẫng cân bằng, ông Hà Đình Cẩn khi ấy là Giám đốc Công ty Cầu 12 chia sẻ, chúng tôi nhận thấy công nghệ này có rất nhiều lợi thế vì nước ta sông, suối, kênh, rạch chằng chịt. Công nghệ này có thể thi công vượt những con sông có độ sâu hàng trăm mét, với khẩu độ rất lớn, tốc độ thi công nhanh, giá thành tiết kiệm. Tuy nhiên, khó khăn nhất là kinh phí xây dựng. Việc chuyển giao, nhập máy móc và xây dựng cầu cần đến khoảng 4 triệu USD.

“Không ít ý kiến phản đối, lãnh đạo Bộ GTVT và các cơ quan chức năng cũng phải nâng lên đặt xuống nhiều lần. Tuy nhiên, cuối cùng cái mới, cái tiên tiến đã thắng thế và công nghệ đúc hẫng cân bằng đã có cơ hội được vào Việt Nam mang lại hiệu quả to lớn không chỉ ở Phú Lương mà sau đó hàng trăm cây cầu khác, mở ra trang sử mới cho ngành cầu”- ông Cẩn cho biết.

Hợp long vẫn… “vênh” hơn chục centimet

Ông Lai kể lại, trước khi làm cầu Phú Lương, công nghệ làm cầu tại Việt Nam rất thô sơ. Đến việc đổ bê tông cũng toàn bằng tay hoặc guồng. Nào ai đã quen với máy trộn, trạm nghiền, bộ đúc hay bơm áp lực cao bao giờ đâu. Nhìn 2 bộ xe đúc khổng lồ, lên đến 90 tấn với hàng trăm bộ phận mà anh em thợ cầu phát hoảng. Loay hoay mãi cũng không sử dụng được bơm áp lực cao.  “Nghĩ nát óc, anh em lôi ra thử bơm nước. Nước tóe tung khắp nơi và chẳng tuân theo sự kiểm soát. Thử nước không được, thợ cầu lại mang bơm áp lực cao ra… bơm bóng. Bóng nổ cháy mặt”- ông Lai bật cười khi nhớ lại “cái thưở ban đầu” với công nghệ mới.

Thử mãi rồi cũng tạm quen, thế là đưa vào công trường làm. Thế nhưng, lý thuyết chỉ là màu xám, thực tế lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Do trước đây trộn bê tông mình toàn dùng đá to loại 2:4 hoặc 4:6 nên bơm tắc hết lần này đến lần khác. “Học phí” cho những lần “xôi hỏng bỏng không” ấy là không biết bao nhiêu mẻ bê tông đổ xuống sông xuống biển. Xót xa quá, rồi anh em cũng tìm ra quy luật là phải dùng loại đá nhỏ lại cỡ 1:2 để trộn mới ổn. Bơm lên vùn vụt ở độ cao hàng chục mét.

Mặc dù vậy, đây vẫn chưa phải là bài học lớn nhất của việc “vừa học vừa làm” tại cầu Phú Lương. Do chưa có kinh nghiệm đúc hẫng cân bằng đối xứng và vận hành bộ đúc khi đúc dầm, đến khi hợp long, anh em mới té ngửa là độ võng hai đầu là chênh nhau tới hơn chục cm, chẳng thể ghép hai bên lại với nhau.

Hiện nay khi đã quá thuần thục với công nghệ đúc hẫng nên sai số gần như không có, cùng lắm chênh nhau vài mm. Ngày đó, chênh đến hơn chục cm là một câu chuyện lớn. Nhiều người đến nay vẫn gọi vui là chiếc cầu “vênh” là thế.

Ông Lai kể, bao nhiêu đoàn kiểm tra, kiểm định, không ít nhà khoa học hàng đầu được chi viện cho cầu Phú Lương. Cuối cùng giải pháp được đưa ra là phải dùng hệ kẹp và thanh ba để siết lại. Mọi chuyện ổn thỏa, chất lượng cầu theo đánh giá chẳng ảnh hưởng gì. Và thực tế, cho đến tận bây giờ sau gần 20 năm khai thác, chất lượng cầu Phú Lương vẫn rất ổn.

Không lo lời lãi…

Làm cầu Phú Lương ngày đó lúc nào cũng vui như hội. Vì là công nghệ mới nên được cả nước quan tâm. Những đoàn kiểm tra, thăm hỏi, động viên của lãnh đạo các cấp hoặc các đoàn tham quan, học tập như cơm bữa.

“Ngày đó, các nhà thầu giao thông không lo doanh thu, lợi nhuận như hiện nay. Giờ nếu tháng nào cũng cả chục đoàn tham quan, học tập, chỉ riêng việc lo chi phí đón tiếp, ăn ở đã chẳng còn lời lãi. Tuy nhiên, những năm đầu đổi mới, các doanh nghiệp giao thông chưa phải bận tâm quá nhiều đến việc làm và lợi nhuận. Dù phải đón tiếp nhiều nhưng cả chủ đầu tư và nhà thầu vẫn luôn hồ hởi, vui vẻ chứ hoàn toàn không khiên cưỡng. Anh em trên công trường cũng chỉ lo tập trung thi công, hết ngày làm là thể dục thể thao, đàn hát, hoàn toàn không có áp lực gì về tiền bạc”- ông Lai kể.

Cũng do lần đầu tiên áp dụng công nghệ mới nên các cơ chế, chính sách, đơn giá, định mức gần như chẳng có gì. Từ cơ quan quản lý đến chủ đầu tư, nhà thầu toàn vừa làm vừa mầy mò. Cũng vì không có đơn giá nên  làm xong không được thanh toán đủ cũng phải chấp nhận. Ông Lai cho biết, sản phẩm mới, công nghệ mới nhiều khi không thể cân đong đo đếm được. Đến giờ cầu Phú Lương vẫn chưa được thanh toán hết, khi quyết toán nhà thầu bị giữ lại gần 5 tỷ đồng. Mà ngày ấy, tiền rất có giá trị chứ không như bây giờ, 5 tỷ đồng là vô cùng lớn, có khi làm được cả một cây cầu bình thường chứ chẳng chơi.

Ngày 24/12/1996, sau ba năm rưỡi thi công, cầu Phú Lương được tổ chức khánh thành và đưa vào khai thác trong niềm hân hoan của người dân cả nước. Thủ tướng Võ Văn Kiệt và nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trực tiếp đến chúc mừng  thành quả to lớn của những người xây dựng cầu Phú Lương.

Ông Hà Đình Cẩn nhớ lại, không chỉ áp dụng thành công công nghệ mới, thợ cầu Phú Lương còn khiến các chuyên gia Thụy Sĩ sửng sốt vì tất cả các công đoạn đều được rút ngắn và vẫn đạt độ chính xác cao. Thành công tại Phú Lương mở ra cơ hội lịch sử để phát triển ngành cầu Việt Nam. Từ sau Phú Lương, đúc hẫng cân bằng đã trở thành công nghệ chủ lực, vừa nhanh, vừa rẻ trong xây dựng cầu. Hàng trăm cây cầu lớn nhỏ như: Quán Hàu, Sông Gianh, Nhật Lệ, Nguyễn Tri Phương, và sau này là Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Rạch Miễu, Hàm Luông, Pá Uôn… đã được nhân bản thành công.

"Vào thời điểm ấy, khi ngoại tệ còn khan hiếm, việc bỏ ra 4 triệu USD để nhập công nghệ và thi công một cây cầu không hề là chuyện giản đơn. Thuyết phục các cơ quan để được nhập đúc hẫng cân bằng là một kỳ công. Do đây là công nghệ mới hoàn toàn chỉ có ở các nước phát triển nên khi ấy không phải ai cũng nhận thức hết giá trị và tầm quan trọng của nó”.

Ông Hà Đình Cẩn - Nguyên Giám đốc Công ty Cầu 12

"Việc thành, bại của quá trình chuyển giao, tiếp nhận và thi công công nghệ đúc hẫng tại Phú Lương có ý nghĩa quyết định đến tương lai của ngành cầu đường Việt Nam”.

Ông Cấn Hồng Lai - Tổng giám đốc Cienco1


theo giaothongvantai.com.vn

Viết bình luận

Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản